Dạy kế toán: Tại sao sau khi tốt nghiệp, học viên không thể làm kế toán hoặc thất nghiệp?

Dạy kế toán, học kế toán..., như nở rộ những năm gần đây, nhưng một thực trạng vẫn đang được xã hội, truyền thông, cộng đồng doanh nghiệp trăn trở là số lượng sinh viên sau khi tốt nghiệp chuyên ngành kế toán ngày càng đông mà doanh nghiệp thì vẫn thiếu nguồn nhân lực này. Vấn đề đó nên nhìn nhận thế nào? Đâu là nguyên nhân? Nếu bạn là một trong những người học ngành kế toán mà đang thất nghiệp hoặc làm trái ngành hoặc đang thấy mình chưa tự tin với chuyên ngành đã học thì bạn nên hành động hay vận động thế nào với tương lai của mình?

Dạy kế toán, dạy kế toán thực tế, dạy kế toán thực hành, day ke toan

Tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có chuyên ngành kế toán và truyền thống đào tạo kế toán thì số lượng sinh viên chuyên ngành kế toán gia tăng là điều dễ hiểu khi mà yêu cầu tăng của nhân lực ngành kế toán cùng với sự bùng nổ của khối doanh nghiệp tư nhân từ sau 2005. Xu hướng, yêu cầu đó, các trường dân lập mới mở, các trường mà từ lâu chỉ có các ngành sư phạm, kỹ thuật... thì nay cũng mở ngành kế toán và quản trị kinh doanh. Thêm vào đó, các chương trình đào tạo từ xa, đào tạo kế toán ngắn hạn, các chương trình đào tạo liên kết dưới nhiều hình thức công tư cũng góp phần "cho ra lò" lực lượng nhân sự được đào tạo chuyên ngành kế toán ngày càng đông đảo. Một cơ số lớn lao động sau đào tạo này vẫn đang thất nghiệp, "đóng góp" vào tình hình thất nghiệp hoặc làm tạm bợ trái ngành ngày càng lớn. Điều này nghe thật bị quan! Nhưng đó là sự thật, đó là trăn trở và cũng là một "nghịch lý". Nghịch lý khi mà lẽ ra với số lượng được đào tạo đông đảo hàng năm như thế thì các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa không còn khan hiếm nhân sự kế toán mới đúng, nhưng không phải vậy. Người thất nghiệp cứ thất nghiệp, doanh nghiệp thiếu nhân sự kế toán cứ thiếu (!). Tức là vừa thừa, vừa thiếu... Không riêng gì ngành kế toán, nhiều ngành khác như quản trị kinh doanh... cũng có thực trạng tương tự, nhưng tác giả xin chỉ đề cập tới lĩnh vực kế toán trong khuôn khổ bài viết này.

Dạy kế toán, đào tạo kế toán, day ke toan, dạy kế toán thực tế, dạy kế toán thực hành

Đứng ở góc độ người tuyển dụng, nếu bạn gặp và hỏi khoảng 10 người đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học ngành kế toán, với câu hỏi "em đã sẵn sàng làm kế toán chưa?", tôi tin rằng phần lớn trong số đó "ậm ừ" không thể trả lời. Có người sau khi tốt nghiệp thì nhận thấy kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và am hiểu luật pháp chuyên ngành của mình không đủ để "sẵn sàng" làm việc. Có người thì vì tính cách quá e dè, thậm chí có suy nghĩ tiêu cực rung sợ tới mức "sợ ở tù" nên chưa dám kiếm việc kế toán..., một số khác thì bối rối vì yêu cầu kinh nghiệm từ nhà tuyển dụng... Vậy là họ sẽ chấp nhận kiếm một công việc đầu đời ở một lĩnh vực khác như bán hàng, nhân viên phục vụ, bán hàng đa cấp để kiếm thu nhập trang trải cho cuộc sống khó khăn sau khi ra trường,… số khác thì chấp nhận (đôi khi may mắn mới có được) làm “tập sự” không công tại một số công ty/doanh nghiệp mà họ được chấp nhận làm việc không nhận lương. Nhóm kiên trì và có điều kiện hơn thì lại tìm tới các chương trình đào tạo kế toán ngắn hạn theo hướng đào tạo kế toán thực hành, đào tạo kế toán thuế hay muôn vàn lời rao quảng cáo hiện nay tràn lan trên mạng. Cũng có người chọn được đúng thầy đúng thợ, thì sau một vài tháng đã “bắt đầu biết làm kế toán đơn giản” hoặc biết làm khai báo thuế, phần lớn còn lại khi lựa chọn con đường này thì vẫn “tiền mất tật mang”.

 

Vậy lý do là ở đâu? Dưới góc nhìn của người viết bài, xin được nêu ra vài điều sau để các bạn luận bàn:

Dạy kế toán, day ke toan, dạy kế toán thực tế, dạy kế toán thực hành

Phần 1: Nói về dạy kế toán

  1. Dạy kế toán theo cách “cơm chấm cơm”. Tôi không luận bàn về vấn đề bằng cấp gì ở đây trong cách nhìn nhận về giảng dạy chuyên ngành kế toán, mà vấn đề tôi đặt ra ở đây là kinh nghiệm và kỹ năng của cả người dạy, người học. Có quá nhiều giảng viên, giáo viên chưa một ngày làm công việc kế toán, chưa một lần làm hoàn thành một tờ khai thuế đơn giản cho một doanh nghiệp nhỏ (hoặc chí ít là một tình huống phát sinh thực được chuẩn bị phụ trợ cho bài giảng của họ), vậy thì dạy cho sinh viên chỉ là lý thuyết suông.
  2. Ngay cả lý thuyết kế toán suông cũng không đầy đủ, không hướng dẫn người học cách tự học và phát triển chuyên môn nghiệp vụ kế toán. Tài liệu, bài giảng, sách kế toán… gần như chẳng khác nào các chuẩn mực kế toán đã ban hành (nếu không muốn nói là sao chép nguyên bản), các thông tư hướng dẫn, các văn bản chuyên ngành kế toán và thuế. Một tiết giảng, đi quá nhiều vào những nội dung như “nguyên tắc”, “chức năng nhiệm vụ”, “quy định” mà chẳng mấy thời gian bàn đến hoặc trao đổi cho học viên biết một chu trình nghiệp vụ kế toán đơn giản theo phần hành khởi đầu thế nào và kết thúc ở đâu (?).
  3. Dạy kế toán theo cách chỉ dạy “Nợ-Có”. Nhìn vào “vở chép bài” của sinh viên ngành kế toán hiện nay, chúng ta dễ dàng thấy chỉ có tiêu mục như “nguyên tắc”, “chức năng”…, chỉ có sơ đồ kế toán chữ T, rồi những ví dụ tưởng như hóc búa với bài giải là Nợ trên Có dưới. Hết tiết này qua tiết khác, điều mà sinh viên được tiếp cận là “Nợ và Có”. Trong khi thực tế, “Nợ -Có” gần như là công việc cuối cùng của một kế toán viên khi mà họ tiến hành ghi sổ. Hơn nữa, với sự hỗ trợ của các phần mềm kế toán như hiện nay, các công cụ kế toán Excel, Acces..., thì việc “Nợ-Có” dường như đã được hỗ trợ 100%. Nhưng có lẽ không dạy kế toán theo cách “Nợ-Có” người ta chẳng còn biết dạy gì (?).
  4. Dạy kế toán mà không dạy trình tự thủ tục nghiệp vụ, trình tự thủ tục chứng từ, không dạy sự hợp lý gắn với hoạt động cụ thể của từng mô hình doanh nghiệp, không dạy vận dụng chính sách về tài chính – kế toán – thuế thì dù có học nhiều hơn 4 năm chuyên ngành kế toán, khi ra trường, sinh viên cũng chẳng biết bắt đầu từ đâu. Có quá nhiều học viên sau khi tốt nghiệp, không thể viết phiếu kế toán đơn giản như: Phiếu thu, Phiếu chi..., cũng có quá nhiều người sau tốt nghiệp không hình dung được "Phiếu kế toán" là phiếu gì (?). Người viết bài cũng từng có cơ hội phỏng vấn nhiếu giảng viên từ các cơ sở đào tạo, có những người có tới hơn 10 năm kinh nghiệm dạy kế toán, vậy nhưng khi đưa cho tờ hóa đơn giá trị gia tăng và yêu cầu giải thích các chỉ tiêu - thông số trên đó, họ thẳng thắn trả lời "Không biết!" hoặc "Chưa quen với điều này", thế mới buồn chứ...!
  5. "Nợ - Có" trong trường "chưa đã", ra ngoài học tại các trung tâm đào tạo kế toán ngắn hạn cũng lại lặp lại việc ngồi học “Nợ - Có” bởi các “giảng viên” chạy sô theo cách có lớp thì gọi, không có lớp thì dạy nơi khác và vẫn là “cơm chấm cơm”, vậy là “tiền mất tật mang”.
  6. Dạy kế toán mà cả người học và người dạy đều không thể định hình được một bộ hồ sơ, chứng từ cho mỗi nghiệp vụ, mỗi chu trình của nghiệp vụ kinh doanh phát sinh như: Tài sản cố định, ghi nhận vốn góp, nhân sự tiền lương v.v.., thì cố gắng cỡ nào cũng chỉ thêm mệt mỏi cho cả hai. Ví dụ như: Khi tính lương vào chi phí kinh doanh, thực hiện chi trả lương, điều tối thiểu học viên phải biết đâu là chứng từ mệnh lệnh, đâu là chứng từ thừa hành? Nói đơn giản hơn là, đâu là căn cứ để hạch toán, việc thiết lập một bảng lương được thực hiện thế nào? Có mẫu cho họ thực hành không? Bảng lương đó quan hệ với quy chế lương, hợp đồng lao động cũng như luật về bảo hiểm bắt buộc, thuế thu nhập cá nhân như thế nào? Chưa kể đến, nếu chi phí lương vi phạm các quy chuẩn, các quy định của luật thuế thì hạch toán và ghi nhân chênh lệch ra sao? Thủ tục và chứng từ cần những gì? Cái gì lập trước? Cái gì làm sau? Khi làm rồi thì có đảm bảo yêu cầu “hợp lý” với hoạt động của doanh nghiệp hay không?
  7. Dạy kế toán, mà người học và người dạy hoàn toàn bàng quan với chính sách thay đổi mỗi ngày, không kết nối nghiệp vụ cơ bản với chính sách hiện hành, thành ra học viên cứ như đi trên mây với "Nợ - Có" trong đầu, ra trường gặp nhà tuyển dụng, họ hỏi gì liên quan tới chính sách, tới thực tế cũng chỉ biết “cúi đầu”, trong khi có thể đọc vanh vách một câu từ lời tựa trong sách là "Kế toán là một nghề thuật về con số". Vậy thì tốt nghiệp sẽ thất nghiệp là đương nhiên. Buồn thật!
  8. Dạy kế toán nhưng không thể gắn kết nghiệp vụ, vận dụng phù hợp với thực tế đặc thù hoạt động ngành nghề thì đừng mong có thể triển khai tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp. Đọc nghiệp vụ còn không thể chứ đừng nói gì tới hạch toán và lập báo cáo kế toán cuối kỳ.
  9. Dạy kế toán mà không thể phân định cho học viên giữa kế toán doanh nghiệp và kế toán thuế thì trước sau gì cũng rơi vào tình trạng làm kế toán đối phó hoặc áp đặt các quy định thuế vào làm kế toán cho doanh nghiệp, hoặc kế toán hai sổ, nhiều sổ, chứng từ hồ sơ thì lộn xộn. Do đó, KẾT CỤC có lẽ cầm chắc còn KẾT QUẢ thì còn xa…

Có thể còn nhiều điều nữa còn phải bàn, song người viết bài xin tạm nêu 9 điểm trên để những ai đang dạy, đang học kế toán cùng suy ngẫm và đóng góp quan điểm. Ở bài tiếp theo, người viết bài xin được mạo muội nêu thêm 9 điểm đối nghịch ở góc nhìn đối với người học kế toán hiện nay. (Còn tiếp...)