Đào tạo kế toán thuế cho giám đốc | Các chỉ số phân tích đánh giá tài chính

Các chỉ số phân tích tài chính | Tài liệu học viên | Startup.edu.vn

1. Tỷ số thanh toán hiện hành (Current ratio)

a. Ý nghĩa:

Cho biết khả năng của một công ty trong việc dùng các tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho hay các khoản phải thu để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình. Tỷ số này càng cao chứng tỏ công ty càng có nhiều khả năng sẽ hoàn trả được hết các khoản nợ. Tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy công ty đang ở trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được các khoản nợ khi đáo hạn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là công ty sẽ phá sản bởi vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn. Mặt khác, nếu tỷ số này quá cao cũng không phải là một dấu hiệu tốt bởi vì nó cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản chưa được hiệu quả.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

Tỷ số thanh toán hiện hành = (Tài sản ngắn hạn)/(Nợ ngắn hạn)

2. Tỷ số thanh toán nhanh (Quick ratio)

a. Ý nghĩa:

Tỷ số thanh toán nhanh cho biết liệu công ty có đủ các tài sản ngắn hạn để trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không. Tỷ số này phản ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán hiện hành. Một công ty có tỷ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và phải được xem xét cẩn thận. Ngoài ra, nếu tỷ số này nhỏ hơn hẳn so với tỷ số thanh toán hiện hành thì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho. Các cửa hàng bán lẻ là những ví dụ điển hình của trường hợp này.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

Tỷ số thanh toán nhanh = (Tiền và các khoản tương đương tiền+các khoản phải thu+các khoản đầu tư ngắn hạn)/(Nợ ngắn hạn)


3. Tỷ số thanh toán tiền mặt (Cash Ratio)

a. Ý nghĩa:

Tỷ số thanh toán tiền mặt cho biết một công ty có thể trả được các khoản nợ của mình nhanh đến đâu, vì tiền và các khoản tương đương tiền là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

Tỷ số thanh toán tiền mặt = (Các khoản tiền và tương đương tiền)/(Nợ ngắn hạn)

 

4. Thu nhập trên cổ phần (EPS)

a. Ý nghĩa:

EPS đóng vai trò như một chỉ số về hiệu quả hoạt động của công ty. Khi tính EPS, người ta thường dùng khối lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong suốt kỳ báo cáo để có kết quả chính xác hơn, bởi vì số lượng cổ phiếu lưu hành có thể thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, các nguồn dữ liệu đôi khi sẽ đơn giản hóa quá trình tính toán bằng cách dùng số lượng cổ phiếu đang lưu hành vào cuối kỳ. EPS pha loãng khác EPS cơ bản ở chỗ EPS pha loãng thường cộng thêm số lượng trái phiếu có thể chuyển đổi hay trái quyền vào số lượng cổ phiếu đang lưu hành. EPS thường được xem là chỉ số quan trọng nhất trong việc xác định giá của cổ phiếu. Đây cũng là thành phần chính dùng để tính toán chỉ số P/E. Một điểm quan trọng nữa thường bị bỏ qua là việc tính toán lượng vốn dùng để tạo ra lợi nhuận. Hai công ty có thể có cùng EPS, nhưng một công ty có thể sử dụng vốn ít hơn- tức là công ty đó có hiệu quả cao hơn trong việc sử dụng vốn của mình để tạo ra lợi nhuận và, nếu những yếu tố khác là tương thì đây là công ty tốt hơn.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

EPS = (LNST-cổ tức của cổ phiếu ưu đãi) / (KLCP lưu hành bình quân trong kỳ)

 

5. P/E

a. Ý nghĩa:

P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập cùa mỗi cổ phiếu. Trong đó, giá thị trường của là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất.P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

P/E = giá cổ phiếu / EPS

 

6. Giá trị sổ sách (Book value)

a. Ý nghĩa:

Giá trị ghi sổ cho biết giá trị tài sản công ty còn lại thực sự là bao nhiêu nếu ngay lập tức công ty rút lui khỏi kinh doanh. Vì giá trị ghi sổ là một thước đo rất chính xác giá trị của công ty, yếu tố không biến đổi quá nhanh, tương đối ổn định, nên nó là số liệu thích hợp để phân tích cho các nhà đầu tư, tức là mua cổ phiếu đúng giá trị để hưởng cổ tức hàng năm hơn là cho các nhà đầu cơ, người mua cổ phiếu rồi bán đi với giá đỉnh điểm để ăn chênh lệch.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

BV = Tổng tài sản - TSCĐ vô hình - Nợ

 

7. P/B

a. Ý nghĩa:

P/B được dùng để so sánh giá cổ phiếu với giá trị ghi sổ của nó. P/B là công cụ phân tích giúp các nhà đầu tư tìm kiếm các cổ phiếu có giá rẻ mà thị trường ít quan tâm. P/B nhở hơn 1 có thể mang ý nghĩa là: DN đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi số của nó; giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức hoặc thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp. Nếu P/B lớn hơn 1 thì công ty đang làm ăn khá tốt và thu nhập trên tài sản cao. Chỉ số P/B chỉ thực sự hữu ích khi xem xét các công ty tài chính, hoặc công ty có giá trị tài sản tương đối lớn.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

P/B= giá cổ phiếu/ (Book value/ số lượng cổ phiếu đang lưu hành bình quân)

 

8. Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)

a. Ý nghĩa:

Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính.

Chỉ số này cho biết công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng tài sản.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

ROA = (Tổng LN sau thuế) / (Tổng tài sản)

 

9. Tỷ suất lợi nhuận thuần

a. Ý nghĩa:

- Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.

- Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

TSLN thuần = (LN sau thuế) / ( Doanh thu thuần)

 

10. Tỷ suất lợi nhuận gộp

a. Ý nghĩa:

Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận nếu không tính đến chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Chỉ tiêu này sẽ phụ thuộc lớn vào đặc điểm của từng ngành.

b. Định nghĩa/Cách xác định:

TSLN gộp = (LN gộp) / (Doanh thu thuần) = (Doanh thu thuần - chi phí vốn hàng bán) / Doanh thu thuần

 

Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính
* Hệ số tài trợ, chỉ tiêu này cho biết tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có 1 đồng nguồn vốn thì bao nhiêu đồng thuộc về vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu càng cao chứng tỏ mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng tốt, đó là nhân tố hấp dẫn ngân hàng cho vay. Chỉ tiêu này được xác định như sau :

Hệ số tài trợ

=

Vốn chủ sở hữu

Tổng vốn chủ sở hữu

 

* Hệ số nợ, chỉ tiêu này cho biết tại thời điểm nghiên cứu doanh nghiệp có 1 đồng tài sản thì có bao nhiêu đồng được đầu tư từ nợ phải trả. Chỉ tiêu này càng thấp thì mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng cao. Chỉ tiêu này rất quan trọng đối với các tổ chức tín dụng khi đưa ra quyết định cho vay. Cách xác định chỉ tiêu này như sau:

Hệ số nợ

=

Nợ phải trả

Tổng tài sản

 

c. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp về lao động, vật tư, tiền vốn để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Bản chất của hiệu quả kinh doanh đó là tỷ số giữa kết quả thu về như doanh thu, lợi nhuận… so với các yếu tố bỏ ra như tài sản, vốn chủ sở hữu...dùng cho kinh doanh.
 
Để phân tích hiệu quả kinh doanh ta thường xét các chỉ tiêu tài chính trên 2 góc độ sau:

Các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động
* Số vòng quay của tài sản, chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh các tài sản quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh đó là nhân tố đẩy mạnh tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này thể hiện năng lực hoạt động của doanh nghiệp.  chỉ tiêu này được xác định như sau:

Số vòng quay của tài sản

=

Tổng doanh thu (thuần)

Tổng tài sản bình quân

 

* Số vòng quay phải thu của khách hàng, chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu của khách hàng quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tình hình thu tiền của doanh nghiệp là kịp thời góp phần giảm bớt vốn bị chiếm dụng. Cách xác định chỉ tiêu này như sau:

Số vòng quay phải thu của khách hàng

=

Doanh thu thuần

Số dư bình quân phải thu của khách hàng

 

* Thời gian mỗi vòng quay phải thu của khách hàng, chỉ tiêu này cho biết một vòng quay phải thu khách hàng hết bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này càng thấp, càng tốt. Tuy nhiên khi phân tích ta cần đối chiếu với thời hạn ghi trong hợp đồng kinh tế để thấy được thời gian thu hồi tiền của doanh nghiệp, tình hình chấp hành thanh toán của khác hàng đã đúng chưa. Cách xác định chỉ tiêu này như sau:
     
 

Thời gian một vòng quay phải thu của khách hàng

=

Thời gian kỳ phân tích

Số vòng quay phải thu khách hàng

 

Các chỉ tiêu phản ánh sức sinh lời
* Tỷ suất sinh lời của vốn
Khả năng sinh lời của vốn là điều kiện duy trì sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp. Vốn đầu tư của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại và hình thành từ mọi nguồn vốn nhằm huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận thực hiện quá trình tái sản xuất giản đơn và mở rộng, chỉ tiêu này được xác định như sau: 

 

Tỷ suất sinh lời

của vốn (k) ROI

=

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay x 100

Vốn bình quân

Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời thực sự của vốn (vốn thực chất là tài sản) trong kỳ hoạt động hoặc kỳ vọng cho kỳ tới, chỉ tiêu này mà cao mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh được bảo đảm, chỉ tiêu này thấp, độ rủi ro cao. Trong thực tế k < tỷ suất lãi tiền vay bình quân của các tổ chức tín dụng, với cơ cấu vốn vay chiếm một phần đáng kể trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra, không hấp dẫn ngân hàng cho vay tiền. Trường hợp này các nhà quản trị kinh doanh thường gọi là hiện tượng ăn vào vốn chủ sở hữu. Trường hợp k > tỷ suất lãi tiền vay bình quân của các tổ chức tín dụng, khi đó doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng và cần vay thêm tiền để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi đó mức độ an toàn đang trong phạm vi rộng, thúc đẩy các hoạt động kinh doanh phát triển. Trường hợp k = tỷ suất lãi tiền vay bình quân của các tổ chức tín dụng, khi đó doanh nghiệp cần xem xét, cân nhắc các phương án kinh doanh cụ thể và tùy vào mục đích của các doanh nghiệp trong từng thời điểm.

* Tỷ suất sinh lời của doanh thu
Khả năng sinh lời từ các hoạt động là thông tin quan trọng để đưa ra các quyết định đầu tư vào các sản phẩm mới, nhân tố quan trọng để các doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển trong nền kinh tế, chỉ tiêu này được xác định như sau: 

 

Tỷ suất sinh lời của

doanh thu

(ROS)

=

Lợi nhuận sau thuế x 100

Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết sau một kỳ hoạt động hoặc kỳ vọng cho kỳ tới, doanh nghiệp thu được 100 đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần thì trong đó có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu này thể hiện trình độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị và tình hình mở rộng thị trường. Chỉ tiêu này thường được so sánh với chỉ tiêu trung bình của ngành nghề. Trong thực tế k < chỉ tiêu trung bình của ngành nghề, chứng tỏ trình độ kiểm soát chi phí của doanh nghiệp thấp, thị trường chưa mở rộng, sức cạnh tranh kém, khi đó dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra. Trường hợp k > Chỉ tiêu trung bình của ngành nghề, khi đó doanh nghiệp cần phát huy những mặt tích cực nhằm tăng cường kiểm soát chi phí và mở rộng thị trường, sức cạnh tranh cao. Khi đó mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh tốt, nhân tố hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư theo chiều rộng.

* Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu là nhân tố quan trọng giúp cho các nhà quản trị tăng, giảm vốn chủ sở hữu trong từng điều kiện cụ thể nhằm phát triển và bảo đảm an toàn vốn chủ, chỉ tiêu này được xác định như sau:
 

 

Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)

=

Lợi nhuận sau thuế x100

Vốn chủ sở hữu bình quân

Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu trong kỳ hoạt động hoặc kỳ vọng cho kỳ tới, chỉ tiêu này mà cao đó là nhân tố để các nhà quản trị phát hành thêm cổ phiếu, huy động thêm vốn góp đầu tư cho hoạt động kinh doanh. Khi đó doanh nghiệp đang ở trạng thái an toàn cao, song để nâng cao hiệu quả kinh doanh toàn doanh nghiệp cần vay thêm tiền đầu tư. Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu không cao, khi đó dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện nguy cơ phá sản có thể xảy ra. Chỉ tiêu này thường được so sánh với các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành nghề.
Ngoài các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh, còn nhiều các chỉ tiêu chi tiết khác phụ thuộc vào mục đích của từng hợp đồng cho vay đối với từng doanh nghiệp cụ thể. Song tất cả các chỉ tiêu tài chính còn giúp cho các tổ chức tín dụng nhận diện dấu hiệu rủi ro tài chính trong các hợp đồng cho doanh nghiệp vay tiền.
 


Đào tạo kế toán thực hành, kế toán thuế, kế toán cho giám đốc

Write a comment

Comments: 0